8/12/09

Atlas quốc gia, chuyện bây giờ mới kể

Là thành quả của gần 300 nhà khoa học Việt Nam trong suốt 20 năm, cuốn Atlas quốc gia được phát hành vào năm 1996 rồi sau đó bị "bỏ quên" trong thư viện.

Kỳ 1: Gian nan đường đến thành công

Nhắc đến câu chuyện ra đời của Atlas Việt Nam, những người gắn bó từ những ngày đầu manh nha ý tưởng ra đời Atlas cũng không khỏi chạnh lòng.

Lần theo hành trình ra đời của Atlas, mới thấy được công sức của các nhà khoa học và cũng phần nào cho thấy những điều không nên có trong nghiên cứu khoa học.

Đầu không xuôi, đuôi khó lọt

Ông Nguyễn Thơ Các, khi đó là Giám đốc Xí nghiệp Bản đồ, thành viên nghiên cứu Chương trình Atlas quốc gia Việt Nam hay còn gọi là Chương trình 48-03 cho biết, năm 1976, khi đặt vấn đề triển khai, có người cho rằng phải lấy Atlas quốc gia để tiến hành điều tra cơ bản toàn bộ cả nước trong vòng 20 năm. Người lại cho rằng quá trình phát triển đất nước luôn vận động, thay đổi do vậy có đến đâu cần làm đến đó và có cập nhật định kỳ. Chỉ vì đắn đo giữa hai quan điểm này mà mãi đến cuối năm 1985, Atlas mới được bắt tay thực hiện.

Cố giáo sư Nguyễn Văn Chiển bên công trình Atlas Quốc gia mà ông là Chủ nhiệm chương trình.

Công việc triển khai cũng không được “xuôi chèo, mát mái” vì phải tập hợp hàng trăm lĩnh vực khác nhau, mỗi người một ý. Có những lúc tưởng chừng như không thể triển khai tiếp được vì một số chuyên đề không làm theo yêu cầu ban đầu và một số nhà khoa học muốn “ngãng ra”.

Sau nhiều cố gắng, năm 1987, về cơ bản Atlas cũng được hoàn thành. Đến lúc này một vấn đề mới lại nảy sinh. Có người “mách nước” với nhóm nghiên cứu rằng, có lẽ bảo vệ nghiên cứu ở trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn vì nhiều người tỏ ra “khó chịu” với chương trình này. Cần phải lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô trước khi bảo vệ ở Việt Nam. Thật may vì các nhà khoa học quốc tế đánh giá rất cao công trình nghiên cứu này.

Và cũng từ đây, hành trình xây dựng Atlas lại có vấn đề mới. Chuyện là, các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô cũng muốn cùng đứng tên trong công trình. Trong khi, một số nhà khoa học Việt Nam không đồng ý vì đây là công trình mang tầm vóc quốc tế và hoàn toàn do các nhà khoa học Việt Nam làm, nên chỉ có nhà khoa học Việt Nam đứng tên. Ý kiến này đã không “được lòng” một số người trong Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ). Vì thế mà ngay cả khi bảo vệ xong, kết quả nghiên cứu đã bị niêm phong, cất kỹ.

Chiến công vẻ vang của ngành bản đồ

Để xuất bản được Atlas, vấn đề đặt ra là cần tài chính và một hội đồng biên tập. Tuy nhiên, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước lại không có kinh phí dành cho nghiên cứu này.

May thay, tiến sĩ khoa học Đặng Hùng Võ, khi đó là Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học sản xuất trắc địa bản đồ (Cục Đo đạc bản đồ), một đơn vị hoạt động theo cơ chế thị trường, đã có ý ”cứu” Atlas. Ông Võ đã đưa ra ý tưởng đấu thầu hoặc kêu gọi tài trợ, nhờ đó vấn đề tài chính cũng được giải quyết. Một hội đồng biên tập Atlas được thành lập nhưng lại không có tên cố giáo sư Nguyễn Văn Chiển (chủ nhiệm chương trình) trong hội đồng.

Bức xúc vì người có công từ đầu không có mặt, ông Nguyễn Thơ Các dù được mời nhưng cũng không ngồi vào ghế Hội đồng biên tập. Ông Các cho rằng: “Hội đồng này được thành lập không đúng và ông Chủ tịch hội đồng hoàn toàn không có chuyên môn về bản đồ”.

Tuy vậy, với sự ủng hộ của ông Đặng Hùng Võ, năm 1996, Altlas quốc gia Việt Nam cũng được xuất bản và được coi là một chiến công vẻ vang với sự kết hợp nhiều ngành khoa học, bản đồ, in.

Cuốn Atlas được xuất bản với sự đón đợi không chỉ của các ngành trong nước mà nhiều nước trên thế giới. Có Atlas trong tay, họ có thể biết được nơi nào của Việt Nam có gì và cần đầu tư vào lĩnh vực nào.

Ông Nguyễn Thơ Các giới thiệu phần đầu của Atlas điện tử. Ảnh: Đức Long

Tuy nhiên, với cuốn Atlas khổ in 38 x 54cm không phải ai cũng có thể dễ dàng tiếp cận. Thêm nữa, các số liệu nếu không được cập nhật sẽ lạc hậu so với sự phát triển của thực tế.

Khi đó, Viện Khoa học công nghệ địa chính (nay là Viện Đo đạc bản đồ) đã đề xuất nâng cấp Atlas thành Atlas điện tử, vừa thuận tiện cho việc tiếp cận, vừa có điều kiện cập nhật số liệu.

Ông Nguyễn Thơ Các, lúc đó với vai trò là Viện trưởng Viện khoa học và công nghệ đo đạc bản đồ, tính toán để có được Atlas điện tử (thời điểm năm 1998) sẽ phải đầu tư 10 tỷ đồng.

Thế nhưng, đề án này chỉ được Tổng cục Địa chính ký duyệt cho vay theo dạng dự án sản xuất thử nghiệm với kinh phí 4 tỷ đồng, nhưng thực chất chỉ được vay 1,3 tỷ đồng, số còn lại phải tự xoay sở để làm. Đường đi của Atlas điện tử cũng chỉ được một quãng ngắn, ông Các và một số người nữa về hưu.

Atlas giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách có quyết định phân bố lực lượng sản xuất một cách hợp lý nhất trên lãnh thổ. Tập Atlas quốc gia Việt Nam ra đời năm 1996 là kết quả của 300 nhà khoa học đầu ngành trên cả nước trong suốt 20 năm nỗ lực lao động.

Tập Atlas bao gồm 14 chương, 114 bản đồ giới thiệu một cách tổng quan về tất cả các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội. Atlas gồm 163 trang, kích thước: 38 x 54 (cm). Tuy vậy, ngay cả khi đã được xuất bản, nó không được sử dụng để bố trí các dự án sản xuất một cách hợp lý nhất.

Bích Ngọc

MP3 variable bit rate

Khi bạn nghe một bản nhạc cổ điển, chẳng hạn, để ý có những đoạn nghe thật hùng hồn, cả chục tiếng vĩ cầm réo rắt, thêm tiếng dương cầm đệm thánh thót, nào là tiếng Basson, Cello trầm điệu ... đó là đoạn âm thanh "rất phức tạp" dưới mắt cái máy computer.
Ngược lại có những đoạn thật là êm ả, chỉ một tiếng clarinet duy nhất lơ lửng chập chững lềnh bềnh . Đôi khi quá êm nghe muốn ngủ gục . Đấy là đoạn âm tương đối "đơn giản" vì chỉ có 1 hay ít nhạc cụ và rất ít âm thanh gióng lên trong cùng một khoảnh khắc thời gian .

Dĩ nhiên, máy PC phân tích khúc nhạc đơn giản dễ dàng và mau mắn hơn đoạn phức tạp kia .

Theo cách nén nhạc cổ điển (hiểu là lỗi thời), máy PC cứ nén nguyên bài nhạc nhạc dạng wave với một bitrate cố định, ví dụ với bitrate là 128kbps thì cứ mỗi giây có 128 kbits dữ kiện được nén lại , bất kể dù là đoạn nhạc êm ả, im re, hay ồn ào .
Dĩ nhiên bitrate càng cao thì càng nhiều chi tiết được giữ lại và càng trung thực với format wave.
Như vậy nhạc nén với 320kbps nghe "trung thực" hơn 96kbps.

Nhưng để ý là tỷ lệ nén này cố định cho suốt bản nhạc.

=============

Nếu máy PC mà thông minh hơn thì nó tính toán kỹ càng, như thế này:
Khi nhạc tới chỗ êm đềm, hay im lặng thì không có nhiều chi tiết, vậy chỉ cần dùng bitrate thấp thôi đủ rồi, cỡ 96 hay 128kbps cũng dư sức giữ lại gần như hầu hết các dữ kiện âm.
Đợi khi tới đoạn thật phức tạp, như lúc ông Beethoven xốc áo, phất mái tóc vắt ra sau, dương mười ngón tay dượt chạy trên suốt phím đàn cộng với nguyên dàn nhạc trổi dậy trầm bổng nhịp nhàng thì dùng bitrate thật cao cỡ 256 hay 320kbps để ráng gom tất cả các tín hiệu âm lại.

Nếu máy mà tính được như vậy thì bản nhạc nén dạng mp3 ấy:
1.Nghe cũng trung thực như nén cao, 256 hoặc 320kbps
2.Có size nhỏ hơn so với khi nén cố định 256/320kbps

Các ưu điểm của kiểu nén thay đổi này là do kết quả của kỹ thuật nén âm "thông minh" hơn trong cách chọn lọc dữ kiện.
Khuyết điểm duy nhất là khi xài các máy DVD/Mp3 players nên kiểm tra lại xem máy có nhận được Variable Bitrate hay không. Máy PC và các nhu liệu Mp3 players thì không có vấn đề gì cả .

=============

Trên thực tế, rất nhiều nhu liệu Mp3 nổi tiếng, lọai "sang, mắc tiền, nổi danh" như Steinberg, MusicMatch, Real JukeBox vv đánh giá thấp khả năng phân biệt dữ kiện âm của lỗ tai người sử dụng thông thường nên họ dùng một loại Encoder riêng biệt (proprietary) nén cố định, thường là 128kbps cho xong chuyện.
Nhiều trang quảng cáo rêu rao "128kbps là chất lượng CD".

Nhưng càng ngày họ càng thay đổi, bổ sung thêm nhu liệu cho người ta có nhiều lựa chọn hơn, bitrate đủ loại, cố định cũng như thay đổi, tuy Default vẫn là 128bps cố định.

=============

Michael Chang là một trong những developer đầu tiên đã "hack" cái Frauhhofer Encoder của Steinberg, phát triển ra cái Mp3 Encoder gọi là LAME, được những người sành về nhạc và nhiều hiều biết đánh giá là cái Encoder giúp nén nhạc Mp3 với phẩm chất cao nhất.

Mặc dù ở bitrate 128 LAME không hơn được Fraunhofer, nhưng với bitrate cao hơn, cỡ 192 trở lên, LAME bắt đầu "làm việc tốt", và đặc điểm độc đáo nhất là LAME dùng kỹ thuật Variable Bitrate + Joint Stereo (thay vì Stereo thường), giúp người sử dụng có thể "tweak" các parameter để rút tỉa tối đa tất cả các tín hiệu âm cần phải nén.

Chính Steinberg cũng thấp thỏm chế biến cho cái Fraunhofer Encoder có thể dùng được Variable bitrate, lúc đầu họ thất bại ê chề, nhưng sau nhiều năm, cũng dần dà nắm được kỹ thuật này, mặc dầu LAME vẫn còn được xem là Encoder hàng đầu của Mp3.

========

LAME hay gặp nhất trong các:
- Nhu liệu "cheap", miễn phí (một phần vì các developer không có tiền trả cho Steinberg)
- Ta có thể tải LAME miễn phí xuống rồi tự mình nén lấy nhạc. Kết quả có thể tốt hơn là khi xài các nhu liệu Mp3 khác.

==========

Dùng Kazaa mà lấy nhạc xuống, có thể nói tới hơn 85% nhạc là loại 128kbps cố định.
95% những gười nghe nhạc Mp3 chưa bao giờ nghe nói đến LAME, không phân biệt được (và cũng không "care") là 256 nghe hay hơn 128kbps (After all, Steinberg was right about this!)

================

Nếu nghe "nhạc" rap hay Eminem, hay nhạc Việt "New Wave" thì xài 128kbps cố định là quá đủ rồi

=======================

Trên đây Thanh chỉ mới cắt nghĩa VBR là cái gì và kết luận nó là kiểu nén Mp3 hữu hiệu hơn loại nén cố định CBR, và thông thường VBR tốt hơn CBR 128kbps, 160kbps. Thế nhưng nếu mình xài CBR 256 hay 320kbps (tối đa), thì quality có bằng VBR hay không?
Vấn đề này hơi phức tạp 1 chút, để hantu "digest" xong cái vụ VBR đã rồi Thanh sẽ viết tiếp.


Tóm tắt phần trước,
LAME là một công cụ mã hóa (Encoder) giúp ta nén nhạc Wave lại thành mp3, với 2 đặc điểm:
- Dùng VBR với chất lượng cao
- Dùng Kỹ thuật Joint Stereo*.

Do Michael Cheng đầu tiên phát triển ra và được duy trì cho đến hôm nay bởi: Mark Taylor, Robert Hegemann và Naoki Shibata


(*Stereo thông thường (Normal Stereo) sử dụng 2 channels trọn vẹn để xử lý âm thanh nổi, phương pháp này đòi hỏi Bandwidth phải lớn, chứ nếu nén nhạc thấp cỡ 128kbps thì việc thiếu hụt Bandwidth có thể tạo ra nhiều Artefact (unwanted noise). Nếu dùng Stereo thì nên sử dụng Bitrate cao hơn, ít nhất là 192.

Còn Joint Stereo thì chỉ dùng một Channel chính và một Channel phụ. Khi âm thanh bên Trái và bên Phải giống hệt nhau, LAME nén tín hiệu vào chung Channel chính, chỉ khi nào có sự phân tách hay khác biệt Trái-Phải LAME mới dùng Channel phụ để đánh dấu sự phân tách.
Khi nhạc được giải mã (Decoded, tức là Playback), âm thanh nghe vẫn giống y hệt Stereo, nhờ có đầy đủ các thông tin trong Channel Chính-Phụ.
Việc này tương tự như cách thức WinRAR nén dữ kiện, lọai bỏ các chuỗi thông tin giống nhau, để thu nhỏ file size lại một cách đáng kể.

Vì Joint Stereo tiết kiệm được nhiều bits nên việc thiếu hụt Bandwidth khi nén nhạc ít xảy ra hơn so với Normal Stereo, và nhờ vậy mà Joint Stereo ít tạo Artefact hơn.)

Chúng ta đã gặp "artefact" khá thường trong lãnh vực Graphics: các file ảnh dạng jpeg nén quá mức (nén càng nhiều tức là dùng càng ít bitrate) làm tấm hình trông lu mờ, thấy các "ô vuông, hay hình bậc thang" xuất hiện.
Vì thiếu Bandwidth, nhu liệu nén hình phải "suy diễn" (Interpolate) và "chế" ra thêm thông tin đặng bù đắp vào các chỗ khiếm khuyết, gọi là Artefact.

============

Nhạc 128kbps nếu nghe với loa trung bình hay tầm thường thì cũng chấp nhận được, chẳng thấy khác biệt gì nhiều với mp3 có Bitrate cao hơn.
Nhưng khi Thanh xài đến bộ loa Monsoon Promedia 14 thì "bộ mặt thật" của 128 kbps bắt đầu xuất hiện! Âm thanh phát ra từ PM 14 rõ và trong như pha lê, nên bao nhiêu khuyết điểm trong nhạc nén đều ló ra hết.
Vì vậy mà Thanh quyết định "làm lại từ đầu".


Trước tiên, Thanh lấy cái LAME Encoder xuống từ nơi đây:
hxxp://www.hydrogenaudio.org/index.php?showtopic=203&st=0&

Sau đó, vì LAME không có giao diện (chỉ là cái Encoder), nên lấy cái RazorLAME xuống để điều khiển nó, tại đây:
hxxp://free-zg.hinet.hr/meltdown/download_files/razorlame115.zip

Tất cả các nhu liệu mã hóa mp3 đều tương tự như vậy, căn bản gồm có một cái Encoder, cái giao diện, và các chức năng phụ.
Nhưng sở dĩ Thanh chọn RazorLAME vì 2 điều này:

1.Chỉ muốn nhấn một hai nút, thật đơn giản, để LAME làm ra mp3, và chỉ như vậy thôi, không muốn thêm chức năng phụ trội nào khác (như đốt ra CD, liệt kê bài hát vào Catalog vv).

2.Trong khi các nhu liệu khác thường hạn chế việc chọn lựa Options của mình (từ 32kbps lên đến 320, CBR hay VBR), với RazorLAME thì bất kể cái gì mà LAME làm được là mình có thể chọn trong Option, vì chẳng qua nó chỉ là cái giao diện mà thôi, không áp đặt hay gợi ý bất cứ điều gì cho mình cả.
Do đó, mình có thể chọn ngay cả 8kbps +mono nữa!
Và quan trọng nhất là mình có thể dùng rất nhiều Settings đặc biệt (xem ở dưới) đã được công nhận như là "Best Presets" để sử dụng LAME.

Thanh có kèm cái Attachment ở dưới về cách "sử dụng RazorLAME".
Cả hai, LAME và RazorLAME không cần phải cài gắn vào Windows, cứ mở ra mà xài nên đỡ lo vụ không biết làm hại máy.


================

Câu hỏi quan trọng nhất, sau đó, có lẽ là:
"Nên sử dụng Setting nào của LAME để tạo ra mp3?"

Nói cách khác, Settings nào tạo phẩm chất mp3 cao nhất? Tại sao không dùng CBR 320kbps luôn cho tiện, việc gì phải cần đến LAME làm chi cho rắc rối?

Muốn có câu trả lời chính xác nhất, cách tốt nhất là mình đi hỏi người nào rất rành về mp3 và cách nén mp3. Và, có lẽ trên Internet không có chỗ nào tụ tập nhiều "cao thủ" về nhạc như ở đây (link lấy lại từ ở trên):
hxxp://www.hydrogenaudio.org/index.php?showtopic=203&st=0&


Thanh còn nhớ, có vào một cái forum warez nọ lọai lớn, nơi người ta đăng link lấy trộm rất nhiều nhu liệu, mình chỉ nhìn vào số lần đọc cái thread (viewings) là biết topic ấy thuộc lọai sôi nổi hay không.
Thí dụ ngày hôm ấy "UltraEdit v1.21" có 120 lần đọc, và "Photoshop CS" có 2,241 Viewings là mình biết Photoshop phổ biến hơn cái nhu liệu kia biết bao nhiêu lần rồi.

Cái thread về LAME Settings ấy có 113,000 Views.
Chú ý là "lame.exe" ở đấy là v3.90.3 (không phải là bản mới nhất), vì nhưng trang ấy liệt kê các Settings của v3.90.3 (Do Dibrom là người đã compile ra) và cho đến nay chưa có cao thủ nào tìm ra được cái gì hay hơn, hay cải thiện thêm được gì cả. Các bản mới hơn như 4.0 hay hơn còn đang bị "mổ xẻ", tranh cãi rất nhiều, chỉ được xem như là còn trong vòng thí nghiệm mà thôi.


Đa số đều công nhận:
--alt-preset insane
--alt-preset extreme
--alt-preset standard

là 3 Setting cao cấp nhất của LAME theo thứ tự từ trên xuống dưới, và cái phổ biến nhất là--alt-preset standard.
Rất, rất ít người phân biệt nổi 3 cái này, do đó --alt-preset standard, vì tiết kiệm được MB nhiều nhất, trở thành thông dụng nhất.


--alt-preset standard có bitrate trung bình là 190kbps và xài 320 khi cần, do đó nó tạo phẩm chất cao hơn cả CBR 256kbps, vì cái này cố định, không bao giờ vượt lên đến 320kbps cả.


Vì CBR 320 kbps dùng cách nén thấp nhất, để lấy tối đa các tín hiệu, nên khó thể nói VBR tạp phẩm chất cao hơn, tuy nhiên, trên thực tế có bao nhiêu người phân biệt nổi CBR 320 kbps với --alt-preset standard hay --alt-preset extreme?
Trong khi mp3 làm với CBR 320 lại có size rất lớn.

Ngòai ra, nếu ta muốn xài CBR 320 thì tốt nhất là nên dùng --alt-preset insane, cũng dựa trên CBR 320 cộng thêm với một số "tweaking" quan trọng như hi/low pass filter,Psycho Acoustice model, Noise Reduction modes.
Trên lý thuyết, --alt-preset insane phải tạo phẩm chất cao hơn CBR 320kbps.

Nói tóm lại, khi dùng bitrate cao, không có nhu liệu làm mp3 nào có thể qua mặt được LAME, đặc biệt là v3.90.3

===================

Vài trang Web liên hệ đến Mp3 và LAME:

Rationale for LAME development
http://lame.sourceforge.net/rationale.html
(Hay là bản "tuyên ngôn ra mắt chào đời của LAME")


Really Rare Wares
http://www.rjamorim.com/rrw/lame.html
(Ai là các "tổ sư" sáng lập ra và duy trì LAME?)


RazorLAME Configuration
http://www.dors.de/razorlame/screenshots.php


ABX Testing
http://www.pcabx.com/training/getting_started.htm

Đây là phương pháp thử nghiệm "mù" (Double Blind Test) qua đó người ta đã chức minh được --alt-preset extreme, và, ngay cả --alt-preset standard, "tốt" hơn CBR 256kbps.

Không có ABX Test thì LAME có lẽ đã được xem như chỉ là một ý nghĩ viễn vong của những người giàu trí tưởng tượng.

(Sưu tầm http://www.vietcyber.com/forums/showthread.php?t=69387) Tác giả: Thanh

17/5/09

Nghe nhạc radio online thật thú vị

RadioSure miễn phí nó cho phép bạn thưởng thức hơn 12,000 kênh radio âm nhạc trực tuyến và có thể ghi âm lại với chỉ một click. Hơn nữa còn có bản portable không cần cài đặt, có cả ngôn ngữ tiếng Việt.
Link: http://www.radiosure.com/download/

Autocad R14 trong Vista

1) setup R14 bình thường
2) download file SH31W32.DLL và chép đè trong thu mục cài đặt.
3) Trước khi chạy:
- phải chuột Shortcut R14 ngoài màn hình nền chọn Properties và chọn như hình

28/4/09

Thắc mắc về SilverLight

1: Silverlight là gì?

A: Silverlight là một công nghệ của hãng Microsoft cho phép xây dựng các ứng dụng chạy trên trình duyệt, về ý nghĩa, nó cũng tương tự như Flash của hãng Adobe.

image_2

2: Học Silverlight để làm gì?

A: Bạn có thể tạo được các ứng dụng chạy trên nền trình duyệt với giao diện xuất sắc, khả năng hỗ trợ video chất lượng cao, bạn sẽ dùng một công nghệ mà Microsoft - hãng phần mềm số một thế giới đang xây dựng, và sẽ sử dụng nó trên các website của mình.

3: Silverlight có khó học hay không?

A: Học Silverlight không khó hơn học Java, C#, VB, cũng không khó hơn học PHP, JavaScript, vậy nên nếu bạn đã có một số kiến thức cơ bản về lập trình, bạn hoàn toàn có thể nắm bắt Silverlight một cách dễ dàng.

4: Tôi có thể chạy các ứng dụng Silverlight trên những trình duyệt và hệ điều hành nào?

A: Hiện tại, bạn có thể chạy các ứng dụng Silverlight trên các trình duyệt IE, FireFox và Safari. Các trình duyệt được hỗ trợ là Windows và MacOS, phiên bản cho Linux đang được Microsoft và Novell hợp tác phát triển.

5: Tôi phải dùng máy chủ web nào để chứa các ứng dụng Silverlight?

A: Các ứng dụng Silverlight chỉ được tải về như những file bình thường để chạy bởi trình duyệt, do vậy không có yêu cầu bắt buộc nào về máy chủ, bạn hoàn toàn có thể đặt một ứng dụng Silverlight trên một máy chủ web Apache chạy trên nền Linux.

6: Hiện có những phiên bản nào của Silverlight?

A: Có 2 phiên bản chính: phiên bản 1.0 đã ra đời từ năm 2007, và phiên bản Silverlight 2 beta 1. Phiên bản 1.0 mạnh về các tính năng multimedia, phiên bản 2 thêm vào khá nhiều tính năng: hỗ trợ lập trình bằng các ngôn ngữ trên .NET như C# và VB, các công nghệ như LINQ, lập trình socket và các giao thức kết nối mạng dựa trên HTTP…

7: XAML là gì?

A: XAML là một ngôn ngữ dựa trên XML, ngôn ngữ này cho phép bạn có thể xây dựng giao diện của các ứng dụng rất dễ dàng và nhanh chóng, bạn chỉ cần khai báo các thành phần có trên giao diện của ứng dụng cùng với các thuộc tính của nó, khi chạy chương trình sẽ hiển thị giống như bạn đã khai báo. Điều này cho phép tách bạch được giữa việc thiết kế giao diện và việc hiện thực hóa các tính năng.
XAML có trong Silverlight là một tập con của XAML trên .NET 3.0, trong đó đã bị hạn chế một số tính năng như đồ họa 3D nhằm giữ tính tương thích trên nhiều nền tảng và trình duyệt khác nhau.

8: Tôi nên học Silverlight 1.0 hay 2.0?

A: Nếu đang định xây dựng ứng dụng trên Silverlight, lời khuyên là nên dùng Silverlight 2.0, tuy nhiên, nếu bạn chưa từng làm việc với Silverlight, bạn hãy bắt đầu với bản 1.0.(bài học).

9: Silverlight có cho phép truy cập server theo kiểu cross-domain không?

A: Có, mặc nhiên các ứng dụng Silverlight có thể truy cập ngược lại vào máy chủ mà nó được tải xuống, nếu muốn truy cập vào các máy chủ khác, trên máy chủ đó phải có file crossdomain.xml được cấu hình phù hợp.

10: Tôi chưa từng biết về lập trình, liệu tôi có thể học Silverlight hay không?

A: Tùy thuộc bạn học để làm gì, nếu bạn là một người thiết kế giao diện thì bạn có thể bắt đầu học Silverlight, nếu bạn muốn học lập trình với Silverlight, lời khuyên là bạn nên bắt đầu với một ngôn ngữ nào khác như Java, C# hay VB.

11: Tôi có thể tải về bộ cài đặt Silverlight ở đâu?

A: Nếu bạn chỉ muốn dùng Silverlight để xem những ứng dụng do người khác làm:
- Silverlight 1.0
- Silverlight 2 Beta 1
Ngoài ra, nếu muốn tạo ra các ứng dụng Silverlight, bạn cần có thêm:
- Microsoft® Silverlight™ 2 Software Development Kit Beta 1
- Microsoft® Silverlight™ 1.0 Software Development Kit
Các công cụ sau sẽ hỗ trợ bạn trong việc tạo ứng dụng:
- Microsoft Silverlight Tools Beta 1 for Visual Studio 2008
- Microsoft Expression Studio 2 Beta
- Visual Studio 2008

12: Tôi có nghe về WPF/E nhưng không biết nó là gì?

A: Đó là tên ban đầu của Silverlight, nó có nghĩa là: Windows Presentation Foundation/Everywhere.

13: Tôi cũng đã đọc thấy nói về Silverlight 1.1 nhưng không thấy nhắc đến?

A: Silverlight 1.1 là mã phiên bản cũ của Silverlight 2.0.

14: Tôi phải dùng máy chủ web nào để có thể chạy các ứng dụng Silverlight?

A: Vì Silverlight là công nghệ chạy trên trình duyệt, do vậy bạn có thể dùng bất kỳ máy chủ nào, chạy trên bất kỳ hệ điều hành nào để chứa các ứng dụng Silverlight.

15: Làm sao để chạy chương trình Silverlight nhưng không cho chúng truy cập ngược lại trang HTML và gọi các hàm JavaScript trên đó?

A: Bạn hãy thêm một thuộc tính có tên enableHTMLAccess vào nơi khai báo đối tượng Silverlight plug-in và đặt giá trị cho nó là false. Hãy xem ví dụ sau:


type="application/x-silverlight-2-b1" width="100%" height="100%">
style="text-decoration: none;">

alt="Get Microsoft Silverlight" style="border-style: none"/>

Nếu dùng đối tượng Silverlight trong ASP.NET, bạn có thể viết:


Source="/ClientBin/SilverlightApplication1.xap" Version="2.0"
Width="100%" Height="100%" EnableHtmlAccess="true" />

Thuộc tính này chỉ tồn tại trong Silverlight 2 plug-in, plug-in 1.0 luôn cho phép đối tượng Silverlight truy cập lại trang HTML. Tuy nhiên các Silverlight 2 plug-in vẫn chạy được các chương trình Silverlight 1.0.

16: Có cần phải cài .NET Framework để chạy các ứng dụng Silverlight không?

A: Không, thứ duy nhất bạn cần là Silverlight plug-in, bạn chỉ cần cài .NET Framework nếu muốn dùng các công cụ phát triển (các công cụ này được phát triển trên .NET) như Visual Studio.

17: Tôi muốn truy cập vào đối tượng window hoặc document như trong javascript có được không?

A: Được, bạn hãy dùng lớp System.Windows.Browser.HtmlPage, trong đó có 2 thuộc tính là Document và Window, ví dụ như bạn muốn trình duyệt chuyển sang một trang mới:

System.Windows.Browser.HtmlPage.Window.Navigate(new Uri(”http://www.SilverLight.net”))

hoặc

System.Windows.Browser.HtmlPage.Window.Navigate(new Uri(”http://www.SilverLight.net
“), “_blank”)

18: Lập trình với Silverlight 2.0 có thể đọc được file nhị phân không?

Bạn không thể truy cập vào hệ thống file trên máy tính của người dùng,
do vậy bạn không thể đọc được file. Tuy nhiên có thể yêu cầu của bạn là
đọc các file trên server, trong trường hợp này bạn có thể viết một dịch
vụ (một web service chẳng hạn) và cho phép ứng dụng Silverlight truy
cập thông qua dịch vụ này.
Trong Silverlight vẫn có hỗ trợ namespace
System.IO, và bạn vẫn thấy các lớp cho phép truy cập file trong đó, tuy
vậy các lớp này chỉ được dùng để truy cập vào một hệ thống file ảo được
gọi là IsolatedStorage.
Nếu vẫn cố truy cập vào một file trên máy người dùng, bạn sẽ nhận được
thông báo lỗi sau: Attempt to access the method failed:
System.IO.StreamReader..ctor(System.String)

19: Cho em hỏi trong VS2008, khi chưa cài SL Tools Beta 1 For VS2008, em
thấy có thể tạo được WPF Application. Vậy cái này có phải là SL không
(vì em đọc phía trên thấy WPF/E là tên cũ của SL)? Nếu phải thì giống
và khác gì so với tạo SL Application (sau khi đã cài tools)?

Tuy Silverlight có tên cũ là WPF/E nhưng nó chỉ giống, chứ không phải là WPF.

thể coi API và XAML trong SL là tập con trong WPF, nhưng nền tảng thực
thi lại hoàn toàn khác nhau, một bên chạy trên plug-in gắn vào trình
duyệt, một bên chạy trên nền .NET Framework 3.0.

20: khi chạy project trong expression thì nó lại báo lỗi: The name “Canvas” does not exist in the namespace “http://schemas.microsoft.com/winfx/2006/xam/presentation.The name “Image” does not exist in the namespace “http://schemas.microsoft.com/winfx/2006/xam/presentation “)

Trường hợp của bạn mình cũng chưa gặp nhưng có thể là do khai báo namespace không phù hợp. Bạn thử thêm một chữ l (xam –> xaml) như sau xem:
http://schemas.microsoft.com/winfx/2006/xaml/presentation
Nếu vẫn chưa được, bạn hãy thay dòng schema trên bằng http://schemas.microsoft.com/client/2007

21: tai sao khi tao project silverlight moi lại bị báo loi reference
agclr
system.silverlight
system.xml.core

Có lẽ chưa cài/hoặc quá trình cài Silverlight 2 SDK không thành công, em kiểm tra lại xem.
Vào trong phần Control Panel -> Add/Remove Programs xem có Microsoft Silverlight Tools Beta for Visual Studio 2008 trong đó chưa, và có thể kiểm tra xem trong thư mục C:\Program Files\Silverlight\2.0.30226.2 có các file mà máy báo thiếu hay không

Simon Lieu

Vài link demo silverlight của 24hit.net:
carousel
3DSlider
Slide Image

SilverLight

25/4/09

Một số vấn đề về Hatch trong AutoCAD

Một số vấn đề về Hatch trong AutoCAD


Hatch là một phần không thể thiếu được đối với bản vẽ kỹ thuật thể hiện trong AutoCAD. Chính vì sự đa dạng và phức tạp của nó mà có rất nhiều vấn đề nảy sinh xung quanh HATCH. Xin nêu một số vấn đề được chọn lọc từ diễn đàn CADViet.

Vấn đề 1: Khi xóa một đối tượng hatch, đối tượng chặn biên của hatch (line, arc, pline) cũng lập tức bị xóa. Làm sao để miềng xóa được đối tượng Hatch mà không xóa đối tượng nằm ở biên của nó. Mặc dù hatch và đối tượng biên không nằm trong cùng một block hay group.
Kiểm tra biến hệ thống PICKSTYLE của bản vẽ này là bao nhiêu? Mặc định của CAD là 0. Mối quan hệ giữa đối tượng hatch và đối tượng chặn biên của nó phụ thuộc vào biến hệ thống PICKSTYLE. Để chọn đối tượng hatch mà không chọn đối tượng chặn biên của nó thì đặt PICKSTYLE bằng 0 hoặc 1. Để chọn đối tượng Hatch và chọn luôn đối tượng chặn biên của nó thì đặt PICKSTYLE bằng 2 hoặc 3. Như vậy, và file mà bạn đang vẽ có thể đang đặt biến PICKSTYLE = 2 hoặc 3. Để giải quyết vấn đề bạn nêu ra, bạn thử đặt lại biến PICKSTYLE = 0 hoặc 1.

Vấn đề 2: Một số file CAD đối tượng hatch bị vỡ trông rất xấu và còn sai nữa. Tại sao vậy, cách sửa như thế nào.
Hiện tượng này xảy ra khi sử dụng các mẫu hatch như GRAVEL (SỎI) hay AR-CONC (bê tông gạch vỡ) tại những tọa độ có giá trị X, Y lớn (thường là lớn hơn 1 triệu). Để xử lý vấn đề này, cơ bản là phải giảm khoảng cách tương đối giữa gốc (origin) của Hatch và đối tượng Hatch.
Có 3 cách để tránh hiện tượng này:
1. Đặt biến SNAPBASE về tọa độ gần với tọa độ của đối tượng hatch đang vẽ.
2. Dùng lệnh UCS, đặt lại hệ tọa độ sao cho gốc tọa độ gần với đối tượng hatch.
3. Tạm thời di chuyển biên đường hatch về gần gốc tọa độ. Sau khi hatch xong thì lại di chuyển đối tượng hatch về vị trí mong muốn

Vấn đề 3: Một bản vẽ, trong đó bạn tô mặt cắt tường bằng đối tượng solid. Bây giờ muốn thay tất cả solid này thành hatch để có thể đổi kiểu hatch sang nét kẻ chéo.
Dùng lệnh Region để biến đối tượng solid thành Region, sau đó dùng lệnh Bhatch để biến đối tượng Region thành đối tượng Hatch.

Vấn đề 4: Nhiều khi phải sử dụng mẫu hatch chập nhau. Ví dụ như khi sử dụng hatch bê tông cốt thép, bạn phải sử dụng nét chéo (LINE) và nét gạch vỡ (AR-CONC). Làm sao để bạn nối 2 mẫu hatch này lại thành 1 mẫu mới.
Tạo 1 file mới có tên trùng với tên mẫu hatch mà bạn đặt với đuôi là .pat. Ví dụ: BE_TONG.PAT. Mở file Acad.pat trong thư mục support ra, tìm đoạn mà cad mô tả về gạch vỡ, copy vào file mới này, tìm đoạn cad mô tả về Line, copy vào tiếp. Save lại, sử dụng lệnh hatch là ok. Chú ý: cuối file BE_TONG.PAT này phải có một dòng trống

Vấn đề 5: Sử dụng hatch đặc biệt cho bản vẽ. Khi copy bản vẽ đến máy khác thì bản vẽ vẫn như vậy, nhưng muốn hatch thêm thì lại không được. Muốn tìm cái mẫu hatch đó thì phải làm thế nào.
ACAD chứa mẫu Hatch của nó trong file Acad.pat tại thư mục support.
Để lấy mẫu hatch đó sang máy khác, có 3 cách:
1. Copy đè file Acad.pat của máy chủ sang máy khách.
2. Mở file Acad.pat của máy chủ, tìm đoạn text nói về mẫu hatch cần cho bản vẽ rồi copy nó. Mở file Acad.pat của máy khách, paste nó vào cuối cùng.
3. Mở file Acad.pat của máy chủ, tìm đoạn text nói về mẫu hatch cần cho bản vẽ rồi copy nó. Tạo một file có tên trùng với tên của mẫu hatch có đuôi là pat và paste nội dung vừa copy (nhớ là cuối file phải có 1 dòng trống). Copy file mới này vào thư mục support. Khi dùng lệnh Hatch, vào mục custom sẽ thấy mẫu hatch vừa tạo.

Vấn đề 6: Khi muốn lấy biên của một hatch đã bị mất biên để hiệu chỉnh nó hay hiệu chỉnh các đối tượng liên quan, làm cách nào?
AutoCAD có 1 chức năng mới là recreat boundary để lấy biên của bản vẽ:

Vấn đề 7: Khi làm việc trên môt bản vẽ nặng, dùng lệnh hatch sẽ mất nhiều thời gian. Đôi lúc không hatch được, đôi lúc CAD thông báo: 1234 selected, DELETED? trả lời Y thì mới tiếp tục được và phải ngồi chờ thêm một lúc nữa để CAD tính toán.Để khắc phục điều này phải làm sao?
Khi lệnh Hatch được dùng, ACAD sẽ tính toán đường biên của đối tượng hatch mới được tạo nên bởi biên của các đối tượng đang hiển thị trên màn hình. Các đối tượng nằm trong layer ẩn hay đóng băng sẽ bị bỏ qua, các đối tượng nằm khuất ngoài khung nhìn (viewport) cũng bị bỏ qua không đưa vào tính toán.
Để lệnh hatch được nhanh, cần làm sao để số đối tượng tính toán của ACAD là tối thiểu (tăng tối đa số đối tượng bị bỏ qua tối đa). Có 2 thao tác cần làm: thứ nhất là ẩn đi các đối tượng không ảnh hưởng tới đường biên của Hatch mà chúng ta sẽ tạo, thứ hai là zoom càng to càng tốt nhưng vẫn đủ để hiển thị phần hatch sắp được tạo ra (để loại bỏ những đối tượng không tham gia vào đường biên của Hatch mới). Với hai thao tác làm giảm khối lượng tính toán này, dễ dàng thấy được hiệu quả của thời gian hatch.

Vấn đề 8: Để tạo một đối tượng hatch mà không cần đường boundary?
dùng lệnh -hatch (not hatch), chọn option W (draw)
hatchnotboundary

Vấn đề 9: Khi đối tượng chuẩn bị tạo hatch không tạo nên một đường biên kín. Làm thế nào để hatch vào miền hở này?
Với CAD 2007, Tại bảng lệnh Hatch click vào phím More Options (Alt + >) để hiện ra đầy đủ bảng lệnh.
hatchmain
Tại bảng lệnh, bạn nhập vào khoảng hở lớn nhất.
hatchgap
sau đó sử dụng lệnh hatch như bình thường, mọi khoảng hở nhỏ hơn giá trị Gap sẽ bị bỏ qua (xem như liền)
Khoảng hở trước khi hatch

hatchbefore hatchafter
Khoảng hở trước khi hatch Sau khi hatch

12/4/09

Web công “chết”, vì đâu?

ICTnews - "Các cơ quan chính quyền của Hà Nội đã mở 28 trang Web, nhưng chỉ có 2 trang là "sống" được", ông Phạm Quốc Bản, Giám đốc Sở TT &TT Hà Nội kể lại.

Như vậy, nếu xét tiêu chí hiệu quả là "sự sống" của các Website (có người truy cập, nội dung thông tin luôn đổi mới và hữu ích), thì tỷ lệ hiệu quả của các website Hà Nội chỉ đạt vỏn vẹn 0,07%! Chuyện về những trang web "chết" - nội dung tĩnh, không cập nhật, không cung cấp dịch vụ, ít người truy cập... không phải là chuyện mới. Chỉ cần tra từ "Web chết” trên cỗ máy tìm kiếm Google cũng đã ra được vô số những bài báo nói về câu chuyện này.

Song đặt trong bối cảnh lợi ích và hiệu quả thực sự mang lại cho người dân và doanh nghiệp, rộng ra là cả nền kinh tế, xã hội thì câu chuyện trên vẫn còn khá nhiều chuyện đáng bàn.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước và nhiều bộ ngành đã mở website (và "hoành tráng" hơn là cổng thông tin điện tử). Đây là sản phẩm của một phong trào tin học hóa rầm rộ diễn ra trong mấy năm vừa qua nhờ tinh thần lên cao từ Đề án tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước (Đề án 112), khiến nhiều người đã phải thốt lên rằng đó thực sự là một "phong trào xây cổng (điện tử)".

Nhưng xây cổng xong, khi khách bước vào thì phần nhiều vẫn là cảnh "vườn không, nhà trống". Cái mà đa số người dân và doanh nghiệp cần đằng sau những chiếc cổng điện tử hoành tráng đó là thông tin (và phải là thông tin hữu ích) thì rất hiếm có, dịch vụ công cung cấp cho người dân lại càng hiếm hơn. ở những đơn vị, tổ chức nào có lãnh đạo am hiểu và say mê với ứng dụng CNTT thì ở đó phong trào còn khá, tức là còn có thông tin và dịch vụ công được cung cấp. Còn ở những nơi khác lãnh đạo theo đúng tinh thần "phong trào" thì ở đó chỉ có thông tin"ươn".

Chưa có ai thống kê được rằng trong 5 - 7 năm qua, với phong trào dựng website và xây cổng như thế, ngân sách và tiền bạc của Nhà nước đã được đổ vào đó là bao nhiêu. Nhưng cứ thử nhẩm tính một cách đơn giản rằng dự án xây dựng một website chắc chắn chi phí được tính bằng hàng chục triệu đồng, còn với mô hình cổng thông tin điện tử, con số chi phí hẳn không thể tính dưới con số hàng tỉ đồng, thì hẳn sẽ tạm hình dung ra được rằng chi phí xây web, dựng cổng là lớn đến chừng nào. Và nếu chỉ cần nhìn ở mức hiệu quả 0,07% như ở Thủ đô, chắc chắn nhiều người trong số chúng ta không khỏi giật mình. Giật mình về sự lãng phí, về sự kém hiệu quả.

Với mỗi một sự yếu kém, đặc biệt là yếu kém trong các cơ quan Nhà nước, bao giờ ai đó cũng đưa ra được một, hoặc một vài lý do nào đó để biện minh. Chẳng hạn như trong câu chuyện này, lý do thường được nhắc đến là thiếu cơ chế chi phí cho xây dựng và phát triển nội dung trên web, rồi những người làm trang web đa phần là "dân công nghệ" chứ không phải là người làm báo chí, thông tin, rồi thiếu động lực để làm nội dung... Nhưng một điều mà người ta thường hay quên, đó là cơ chế gì thì cũng xuất phát từ con người mà ra, chứ chẳng hề từ trên trời rơi xuống.

Khi một doanh nghiệp mở website, hẳn là họ đã nhìn thấy ở đó lợi ích và hiệu quả của Internet giúp doanh nghiệp quảng bá hình ảnh, thương hiệu hay kinh doanh điện tử. Còn khi một cơ quan nhà nước mở website, quả thực không dễ để nhìn ra động lực ở đằng sau một dự án ứng dụng CNTT tiêu tiền Nhà nước. Động lực đó chỉ có thể đến khi những cơ quan hành chính đặt mục tiêu phục vụ người dân và doanh nghiệp lên hàng đầu, đặt lợi ích quốc gia là tối thượng. Nhưng rõ ràng, động lực đó không phải xuất phát từ những người làm CNTT.

Lê Minh(14/01/2009 01:00:53 AM)

31/3/09

Bảo vệ doanh nghiệp tránh sự giận dữ từ các cựu nhân viên


Quản trị mạng - Một nhân viên có vị trí quan trọng trong công ty vừa rời đi, kèm theo anh ta là những bức ảnh về gia đình của anh, những đồ dùng hay dụng cụ văn phòng của anh tại văn phòng – tiếp đó là các mật khẩu của hàng trăm nhân viên.

Một trong những nhân viên bán hàng có kinh nghiệm nhất trong công ty bạn nghe thấy rằng cô ấy chắc chắn sẽ bị thôi việc. Và cũng từ đó, rất có thể trước khi rời đi , cô ta sẽ download trong tài khoản Gmail của mình một danh sách dài các tài khoản khác nhau phân loại A+ và tiếp đó là một loạt các lưu ký về hóa đơn đã trả và phải trả.

Nếu bạn cho rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra đối với công ty của mình thì cần phải nghĩ lại. Các kịch bản giống như kiểu ở trên xuất hiện rất nhiều ngày nay, theo một số các chuyên gia, thậm chí những chuyên gia tin cậy nhất cũng có thể dính líu tới việc trộm cắp dữ liệu và các loại tội phạm máy tính đứng trước áp lực kinh tế suy thoái và những cái bóng của những người bị xa thải.

Các thống kê gần đây đã chỉ ra điều đó. Cuối năng 2008, một thống kê được thực hiện bởi công ty bảo mật CNTT Cyber-Ark Software Inc. cho biết, khoảng 56% các nhân viên dịch vụ tài chính ở New York, London và Amsterdam thừa nhận rằng họ rất lo lắng đến những người đã bị xa thải. Để chuẩn bị cho những điều tồi tệ nhất, hơn một nửa trong số đó nói rằng số người này đã download dữ liệu công ty cạnh tranh mà họ có kế hoạch sử dụng cho những công việc tiếp theo của họ.

Ở Mỹ, phần trăm này còn cao hơn, khoảng 58% những người làm việc tại Wall Street nói rằng họ cũng như vậy. 71% những nhân viên nói rằng họ sẽ mang dữ liệu mang theo dữ liệu của họ theo nếu họ bị đe dọa bởi sự xa thải vào ngày mai.

Khi mọi người tuyệt vọng trong việc trả cho những khoản tiền hiện hữu như tiền thuê nhà, tiền để có được thức ăn hàng ngày đặt trên bàn, họ có thể thực hiện bất cứ thứ gì mà bình thường họ sẽ không làm, đó chính là tại sao tội phạm ngày càng gia tăng khi khó khăn về kinh tế. Vậy có cách thức nào để giảm thiểu những rủi ro không đáng có từ phía các cựu nhân viên hoặc tránh xa nó. Thực hiện theo các bước giới thiệu trong bài này bạn có thể bảo vệ được công ty của mình.

Các mẹo bảo mật

Không quan tâm đến các điều kiện kinh thế, bạn hãy thực hiện theo một số lời khuyên từ một số chuyên gian để bảo đảm các hệ thống sẽ được an toàn và dữ liệu được bảo vệ khi nhân viên của công ty rời khỏi văn phòng công ty.

  • Ghi chép một cách rõ ràng và hoàn chỉnh về sự truy cập của nhân viên vào mạng, các ứng dụng, máy chủ và tòa nhà công ty.
  • Ngắt các kết nối từ xa, chẳng hạn như các hệ thống pcAnywhere và VPN
  • Vô hiệu hóa các username và password.
  • Nếu nhân viên làm việc trong lĩnh vực CNTT, hãy thay đổi truy cập gốc và truy cập mạng.
  • Ngắt sự truy cập từ bên ngoài vào hệ thống điện thoại.
  • Thu lại các máy cần tay, điện thoại thông minh và cell phone được cùng với các PC và các laptop.
  • Thu lại ID card.
  • Sử dụng phần mềm kiểm tra để theo dõi lưu lượng mạng.

Cung và cầu

Rõ ràng sự đánh cắp dữ liệu sẽ tăng khi nhu cầu thấp và cung cao. Lúc này, có một số lượng lớn về lượng cung đến từ các nhân viên và nếu một ai đó có thể làm cho anh ta trở lên hấp dẫn đối với các nhân viên mới sau này thì đó sẽ là một sự cán dỗ tuyệt vời.

Trong lúc ấy, thành phần nhân viên bỏ việc tiếp tục tăng. Trong một vài tháng trước đây, Citigroup, SAP, Sun Microsystems, IBM, Sprint và Microsoft đã tuyên bố xa thải, bổ sung vào lực lượng hàng chục nghìn người thất nghiệp, nhiều người trong số đó rất am hiểu về kỹ thuật và đã truy cập vào các hệ thống máy tính chính, dữ liệu nhạy cảm của công ty.

Những gì đang gây ngạc nhiên – và tiềm ẩn mối hiểm họa cho sự bảo mật công ty – là có bao nhiêu nhân viên cũ nhớ được sự truy cập như vậy thông qua cái gọi là các tài khoản “mồ côi” sau khi họ bị xa thải. Theo nghiên cứu của một công ty bảo mật mang tên Symark International Inc, 4 trong số 10 công ty không có manh mối liệu các tài khoản người dùng còn ở trạng thái tích cực hay không khi họ đã bị xa thải.

Thêm vào đó, 30% trong số các nhà điều hành đã báo cáo rằng họ không có một quy trình thích hợp để tìm và vô hiệu hóa các tài khoản “mồ côi” này. Một thống kê lấy làm buồn khác: 38% trong số họ không có cách nào để phân biệt xem một nhân viên hiện hành hoặc cựu nhân viên có đang sử dụng hoặc đã sử dụng tài khoản “mồ côi” để truy cập thông tin hay không.

Mối đe dọa hay xảy ra nhất là một nhân viên có thể lấy đi những tài sản mang tính trí tuệ, chẳng hạn như các kế hoạch mang tính chiến lược hoặc dữ liệu khách hàng, trước hoặc sau khi người này nói lời tạm biệt.

Nhiều thứ có thể nguy hiểm hơn thế trong trường hợp xa thải một nhân viên IT. Đây thường là những nhân viên có chìa khóa để đi đến mọi ngóc ngách trong công ty của bạn.

Một “cựu” nhân viên IT tại UBS Paine Webber đã bị kết án và lĩnh 8 năm tù giam về việc cài đặt một quả “bom logic”, dùng phá hoại dữ liệu công ty trên một phạm vi rộng. (Bom logic là một đoạn mã dùng để kích hoạt các hàm mã độc nằm trong các điều kiện cho trước nào đó; cho ví dụ, các hàm có thể bị thiết lập để xóa tất cả các tài khoản khách hàng ở một thời điểm nào đó trong một ngày cụ thể).

Các quản trị viên hệ thống và người dùng với sự truy cập tài khoản có đặc quyền – chẳng hạn như người biết các mật khẩu root – có thể gây ra những hiểm họa lớn hơn vì với các đặc quyền cao họ có thể thay đổi dữ liệu hệ thống, truy cập người dùng và cấu hình. Bên cạnh đó họ cũng dễ dàng phá hoại các hoạt động CNTT của bất kỳ tổ chức nào.

Tuy có những lỗ hổng này, nhưng vẫn có những biện pháp mà các công ty cần thực hiện để hạn chế những hiểm họa tiềm tàng, đặc biệt đối với các “cựu” nhân viên:

Các chiến lược giải thoát và các biện pháp bảo mật cần phải thay đổi phụ thuộc vào vai trò của mỗi nhân viên. Những nhà quản lý, người chịu tránh nhiệm xa thải những cá nhân nào đó không nên thừa nhận rằng việc vô hiệu hóa sự truy cập máy tính chỉ đơn giản là việc ngắt bỏ giắc cắm.

Trước khi bạn xa thải một ai đó, hãy xem xét đến vai trò của họ. Nếu là những nhân viên bán hàng, quản trị nguồn nhân lực hay tài chính hoặc các nhân viên quan trọng, cần phải mất nhiều thời gian hơn (vô hiệu hóa sự truy cập) vì họ có sự truy cập nhiều hơn vào các hệ thống so với các nhân viên khác.

Dự kiến CNTT về vấn đề xa thải ngay từ đầu khi có thể. CNTT cần phải được đồng bộ chặt chẽ với quá trình quản lý nguồn nhân lực, nhưng những nhân viên IT cần phải hiểu các vai trò của họ nhạy cảm như thế nào và không có sự tha thứ cho việc phát tán tin đồn. Nếu một nhân viên IT thông báo trước với người mà họ sẽ bị xa thải thì nhân viên IT đó cũng cần phải đưa vào danh sách cần phải xa thải tiếp.

Cần phải có các chương trình bảo mật và các chính sách thích hợp trước khi xa thải. Giữa nhiều vấn đề cần phải thực hiện thì bạn cần phải bảo đảm rằng đang sử dụng các hệ thống bảo mật nội dung, ngăn chặn việc mất dữ liệu cũng như các hiểm họa. Các hệ thống như vậy gồm có tường lửa, các công cụ lọc spam và phần mềm antivirus…

Bạn cũng cần phải có một cơ sở hạ tầng quản lý truy cập và nhận dạng, được biết đến với tên viết tắt IAM (Identity and Access Management), kiểu cài đặt này sẽ kiểm soát ai, cái gì, nơi đâu và lý do cho các hành động người dùng trong toàn bộ doanh nghiệp. Việc có thể kiểm tra và đánh giá các quyền truy cập đang được sử dụng là một vấn đề quan trọng cho việc ủy thác sự quản lý cũng như nhận ra sự lạm dụng hệ thống.

Phân chia sự truy cập hệ thống theo vai trò của nhân viên. Đây là một nguyên lý thiết kế hệ thống an toàn mà các công ty cần phải thực thi ngay từ khi bắt đầu quá trình triển khai bất cứ phần mềm nào. Ở đây kiểm soát sự truy cập có nghĩa thắt chặt các lớp logic doanh nghiệp.

Tuy nhiên rất nhiều công ty bỏ qua bước này vì nó khá mất thời gian và trí tuệ trong thiết kế phần mềm. Khi thiếu thiết kế bảo mật ban đầu này, thước đo tốt nhất tiếp theo là thực thi phần mềm có thể ghi lại sự truy cập của người dùng vào hệ thống và các hành động mà họ thực hiện trong khi sử dụng các ứng dụng doanh nghiệp khác.

Hầu hết các ứng dụng doanh nghiệp đều có một số mức bảo mật về mật khẩu và user ID. Tuy nhiên với một hệ thống kiểm tra, khi một người dùng truy cập vào cơ sở dữ liệu, mọi thứ mà anh ta thực hiện ở đây sẽ được ghi lại và được báo cáo.

Lên kế hoạch cho những gì xấu có thể xảy ra. Nếu một hành động xa thải nhân viên của bạn diễn ra êm đẹp, không có thái độ không bằng lòng của nhân viên này thì công ty vẫn cần phải tìm lấy những nhân chứng cho chính mình để đề phòng một số điều tra trong tương lai.

Điều đó là để phòng khi các công ty cảm thấy có bất cứ sự vi phạm về bảo mật nào, chẳng hạn như mất dữ liệu nào đó có liên quan đến các nhân viên đã thôi việc, có khả năng thể hiện rằng họ đã sử dụng tất cả biện pháp phòng ngừa có thể và các biện pháp để bảo vệ dữ liệu đó.

Đặc biệt, các công ty cần phải sử dụng đến các image pháp lý của việc cáo biệt các laptop của nhân viên, và chúng sẽ hiện hữu nếu nghiên cứu được thực hiện. (Một image pháp lý là một copy ổ cứng của máy tính).

Thông thường, khi có sự việc xấu nào đó xảy ra. Trong thực tế, có thể mất khoảng 6, 12 hoặc thâm chí 24 tháng trước khi được đưa ra ánh sáng. Tuy có những phí tổn về việc sử dụng image ổ đĩa nhưng bạn sẽ được bù đắp lại những chi phí về sự kiện tụng nếu có.
Tác giả Julia King
Theo ComputerWorld/QTM

30/3/09

How To Listen To Millions Of Songs For Free On Your Desktop

How Is This Possible?

With Muziic, a free online music player that allows you to access millions of songs free of charge, you won’t get into trouble for it because unlike Napster was at one point, it’s completely legal. This app enables you to search through a wide variety of songs in a music catalog that showcases all types of genres all the way from classical hits to hip-hop or R&B.

You’re also able to view small clips that are associated with the song of your choice, courtesy of YouTube.

It might seem a lot to take in at first once you open the user-interface, however you’ll come to find out that it’s pretty easy to search and listen to tracks once you get the hang of it.

Here’s How

The first thing you have to do is open up Muziic, then once you see the following window pop-up you’ll know that everything is in place.

As soon as the complete Muziic player window opens then you can scroll through the list of genres all the way to the left side of your window. You can open up a genre and view songs that have been previously uploaded by other users by simply clicking on its name.

Once you’ve browsed through the list and found songs you want to listen to, just click on the plus sign next to the song and it will be instantly added to your playlist.

Now in order to play the songs in your play list all you have to do is double click on the song and it will begin to load and play on the music player at the top left hand corner.

The End of Our Small Journey

Muziic player also allows you to configure the quality of your songs depending on your Internet connection speed by clicking on the Settings tab and choosing between Standard and HQ Stereo (HQ Stereo requires faster speeds).

There were a few things I wasn’t too fond of. It doesn’t have the option to listen to radio stations like you can with Last.fm or Spotify. I also found no easy way to manage the playlist or quickly browse through it as well.

However, once you take all of these things into consideration and the fact that it’s a free music player you’ll see past a few of the drawbacks (since you can’t have everything) and you can begin to enjoy free music with Muziic.

( Theo Makeuseof)